Go Back   Diễn đàn Gx Vinh Hương > Suy Niệm > Suy niệm - Sống Lời Chúa

Suy niệm - Sống Lời Chúa Những bài suy niệm - Lời cầu nguyện - Lời Chúa hằng ngày

Gởi Ðề Tài Mới Trả lời  
 
Ðiều Chỉnh Xếp Bài
Old 14-04-2011, 03:26 PM   #1
User Profile
thohoangbinh
Super Moderator
 
thohoangbinh's Avatar
 
User ID: 8
Usergroup: 2
Tham gia ngày: Apr 2011
Tuổi: 61
Bài gởi: 256
Thanks: 78
Thanked 312 Times in 206 Posts
Default “ABBA!” - “CHA ƠI!”

NGÀY 22/2/2011, THỨ BA TUẦN 7 TN A

Lập Tông toà Thánh Phêrô

Mt 16,13-19

“ABBA!” - “CHA ƠI!”

Ông Phêrô thưa: “Thầy là Đức Kitô,
Con Thiên Chúa hằng sống


Suy niệm: Ben Hur trong bộ phim cùng tên đã thốt lên: “Tại sao Con Thiên Chúa không muốn làm vua Do Thái hở mẹ? Những điều kỳ diệu Ngài làm khiến con kinh ngạc. Chỉ cần một hơi thở của Ngài đủ hủy diệt sức mạnh Roma. Thế mà Ngài lại từ chối sự trợ giúp của các binh đoàn, khiến bao gian lao trở thành vô ích? Chúng ta lại phải rên siết dưới sự bảo hộ của Roma và để vũ khí mà ta khổ công rèn đúc phải rỉ sét ư?” Anh cũng như nhiều đồng hương đã thất vọng về Đức Giêsu, vì chờ đợi Ngài như Đấng Cứu Thế vinh quang bằng cách trừng phạt quân đội Roma, mang lại phồn vinh cho trần thế qua sức mạnh chinh phục. Ngài quả thật là Con Thiên Chúa hằng sống, là Đức Kitô Cứu Thế như Phêrô tuyên xưng. Thế nhưng, là người Con hiếu thảo với Cha, đời Ngài chỉ canh cánh một điều là làm đẹp ý Cha trong mọi sự. Thế mà ý Cha là sai Con mình đến, không phải để luận phạt, nhưng để cứu thế gian và để thế gian nhờ đó được sống dồi dào.

Mời bạn: Bạn không tin Thiên Chúa cách chung chung như những tín đồ tốt lành của các tôn giáo khác. Bạn tin và đến với Thiên Chúa qua người Anh Cả Đức Giêsu, Đấng là Thiên-Chúa-thần-linh, nhưng đồng thời cũng là con-người-xương-thịt như bạn. Nhờ sống trong tương quan thân thiết với người Anh Cả Thiên-Chúa-con-người này, bạn gặp được Thiên Chúa và dám mở miệng gọi Thiên Chúa: “Abba!” - “Cha ơi!”.

Sống Lời Chúa: Xem lại cách tôi sống với Đức Giêsu như thế nào: gắn bó thân thiết như nên “một” với Ngài hay hờ hững qua loa? Và tìm mọi cách để có thể như Ngài sống trong tôi mỗi ngày.

Cầu nguyện: Đọc kinh Lạy Cha.
thohoangbinh is offline   Trả Lời Với Trích Dẫn
The Following 2 Users Say Thank You to thohoangbinh For This Useful Post:
HatSuongNguyen (22-04-2011), uatkimhuong.mn (15-04-2011)
Old 14-04-2011, 03:34 PM   #2
User Profile
thohoangbinh
Super Moderator
 
thohoangbinh's Avatar
 
User ID: 8
Usergroup: 2
Tham gia ngày: Apr 2011
Tuổi: 61
Bài gởi: 256
Thanks: 78
Thanked 312 Times in 206 Posts
Default THÁNH GIUSE BÊN AI CẬP

THÁNH GIUSE BÊN AI CẬP



Tháng Ba là tháng kính Thánh Giuse. Trong thời gian này, khắp nơi trong Hội Thánh đều hướng về Thánh Giuse. Hướng về bằng nhiều cách, như những suy gẫm, những hình ảnh, những kinh nguyện, những thánh tích. Có những việc tôn kính do truyền thống và cũng có những việc học hỏi do thời cuộc.

Năm nay, tháng Ba bùng nổ một tình hình có nhiều diễn biến phức tạp tại Ai Cập. Thời sự này gợi ý cho tôi nhớ về Thánh Giuse tại Ai Cập. Phúc Âm tả việc Thánh Giuse sang Ai Cập là một cuộc đi trốn. Ngài vâng lệnh Chúa, đưa Đức Mẹ và Chúa Hài Đồng bỏ quê hương mình sang đó để lánh nạn. Sự kiện ấy nên được hiểu thế nào trong chương trình cứu độ của Chúa? Hiểu biết đó sẽ soi sáng cho tôi về việc cộng tác vào chương trình cứu độ của Chúa tại Việt Nam hôm nay.

Với ý hướng trên đây, tôi chạy đến với Thánh Giuse. Tôi xin Ngài dạy bảo. Trong âm thầm, Ngài dẫn nội tâm tôi bước đi từ ý nghĩa này tới ý nghĩa khác. Tôi có cảm tưởng là Ngài chia sẻ cho tôi những gì Ngài đã học được về tình yêu cứu độ của Chúa Cứu Thế. Ngài học được từ chính những từ bỏ, những vất vả, những khổ cực do việc vâng lời Chúa mà đem Đấng Cứu Thế và Mẹ Người đi lánh nạn.

Ở đây, tôi cố gắng diễn tả vài điều đã được lãnh nhận. Điều căn bản nhất mà Chúa đã dạy Thánh Giuse là: Đức Kitô chính là tình yêu Thiên Chúa. Người giáng thế không phải để kết án, mà để cứu chuộc nhân loại. Người cứu chuộc bằng con đường nhập thể. Người mặc lấy thân phận con người, nên giống như con người về mọi mặt, chỉ trừ tội lỗi.

Trong thân phận con người, Đấng Cứu Thế được Thánh Giuse cảm nhận qua những nét như sau:

1. Một tình yêu khiêm tốn vâng phục

Chúa Cứu Thế vâng phục mọi luật của thiên nhiên và xã hội.

Sự sống có luật của nó. Sinh ra thì bé nhỏ. Phát triển thì từ từ với vô vàn yếu tố. Có những yếu tố do tự mình đảm trách được. Có những yếu tố phải nhờ đến những người khác.

Cuộc sống giữa đời có luật của xã hội. Xã hội được xây dựng với những tương quan tự do và bắt buộc.

Sống là sống với những hoàn cảnh lịch sử của nơi ở và thời gian mình sống. Những hoàn cảnh đó thường rất phức tạp.

Khi đem Đức Mẹ và Chúa Hài Đồng đi lánh nạn, thánh Giuse nhận thấy Đấng Cứu Thế đã tỏ ra rất khiêm nhường. Người vâng phục những luật căn bản của sự sống nói chung và cuộc sống giữa đời trong lịch sử nói riêng. Chính nhờ sự khiêm tốn vâng phục đó, mà Đấng Cứu Thế được xã hội chấp nhận. Người trở nên một người gần gũi của họ.

Nhất là Đức Kitô đã triệt để vâng phục thánh ý Chúa Cha. Chúa Cha muốn Người cứu chuộc nhân loại bằng con đường nghèo khó khiêm nhường, chấp nhận mọi đớn đau dành cho những kẻ khốn khổ cùng cực.

Thánh Giuse nhận thấy bản thân mình được kêu gọi cộng tác với Chúa trong chương trình cứu độ. Điều kiện đầu tiên Chúa đòi Ngài là khiêm nhường vâng phục. Ngài hiểu kiêu căng, bất phục tùng là đầu mối gây nên mọi sa đoạ nơi Lucife, nơi tổ tông Ađam, và nơi Israel dân Chúa. Ngài khiêm nhường vâng phục sống đời từ bỏ mình, chấp nhận để Chúa dùng mình vào những việc âm thầm khó khăn, hoàn toàn mặc ý Chúa.

2. Một tình yêu nhưng không

Với tâm tình khiêm tốn vâng phục, Thánh Giuse bên Ai Cập có thể đã tự hỏi mình: Tại sao Chúa đã chọn tôi làm kẻ bảo vệ Chúa Cứu Thế và Mẹ của Người? Câu trả lời chắc chắn sẽ là: Vì Chúa thương yêu. Chúa yêu thương tôi, trước khi tôi biết Người. Chúa chọn tôi, mặc dầu tôi bất xứng. Tình yêu của Chúa dành cho tôi làtình yêu nhưng không. Đáp lại tình yêu nhưng không phải là chiêm ngắm tình yêu bao la ấy với tâm tình tạ ơn và tuỳ thuộc phó thác.

Ngài sống tâm tình ấy bằng biến đời mình nên như một của lễ toàn thiêu.

Trái tim sẽ rực lửa tình yêu. Tình yêu thờ phượng. Tình yêu cảm tạ. Tình yêu đền tội. Tình yêu cầu khẩn.

Tấm lòng sẽ vắng bất kỳ ham muốn nào, trừ khao khát được mến yêu và đáp lại tình yêu.

Tâm hồn sẽ không tìm vinh quang nào cho mình, nhưng chỉ tìm vinh quang cho một Chúa mà thôi.

Tất cả con người Thánh Giuse là một Đền Thờ dâng của lễ toàn thiêu. Có Chúa Giêsu và Đức Mẹ Maria cùng dâng lễ với Ngài.

Một tình yêu lớn lao đã ban cho Ngài nhưng không. Ngài chỉ biết đón nhận bằng cách để mình hoà tan vào tình yêu bao la đó. Thiết tưởng đấy là loan báo Tin Mừng một cách rất đơn sơ mà cũng rất sâu sắc.

Mang Tin Mừng là tình yêu Chúa trong lòng, Thánh Giuse luôn toả ra bầu khí bình an và thanh thản, chan chứa yêu thương. Do đó, Ngài là một nhân chứng về tình yêu Chúa bằng chính đời sống thường ngày của Ngài.

3. Một tình yêu nâng đỡ

Khi đến Ai Cập, Thánh Giuse chắc cảm thấy rất rõ trách nhiệm Chúa trao phó cho Ngài là rất nặng nề. Thiếu thốn mọi sự, xa lạ với mọi người. Ngài phải lo cho gia đình được an ổn về mọi mặt. Ngài phấn đấu hết mình.

Phấn đấu của Ngài được nâng đỡ. Nâng đỡ đặc biệt nhất là từ Đức Mẹ Maria và Chúa Giêsu. Ngay một sự có hai Đấng thân yêu ở bên mình cũng đã là nguồn an ủi vô giá. Hai Đấng chia sẻ cho Ngài niềm tin, lòng cậy trông và lửa mến. Đặc biệt là giúp Ngài tham dự vào chương trình cứu độ loài người bằng cách thực thi thánh ý Chúa Cha trong mọi sự.

Trách nhiệm thánh Giuse phải bảo vệ Chúa Giêsu và Đức Mẹ là hết sức quan trọng. Ngài bảo vệ hai Đấng bằng cuộc sống nghèo âm thầm và lao động. Công việc bảo vệ ấy được chính hai Đấng nâng đỡ bằng cuộc sống tự hạ của các Ngài. Bên hai Đấng, Ngài tỉnh thức lắng nghe ý Chúa. Lòng Ngài vững vàng tựa nương ở Chúa, không bị tác động bởi những dư luận, mưu chước quỷ ma và thế tục. Thánh Giuse sống bên hai Đấng, và sau này đã chết trong tay hai Đấng.

***

Viết tới đây, tôi thầm hỏi Thánh Giuse, xin Ngài cho biết tôi phải bảo vệ Hội Thánh Chúa hiện nay bằng cách nào thích hợp nhất. Ngài soi sáng để tôi thấy rằng: Mỗi người chúng ta hãy biết đón nhận Chúa Giêsu và Đức Mẹ vào lòng mình, và hãy biết bảo vệ hai Đấng ngự trong lòng mình.

Với gợi ý đó, Thánh Giuse cho tôi hiểu: Cảnh nội tâm thiếu vắng Chúa Giêsu và Đức Mẹ chính là một thảm hoạ cần phải sửa, trước khi đề cập đến vấn đề bảo vệ Hội Thánh Chúa. Có Chúa Giêsu và Đức Mẹ trong lòng, chúng ta sẽ biết bảo vệ Hội Thánh bằng những cách mà Chúa muốn.


+ Gm. GioanB. Bùi Tuần
NewsPK=19077
thohoangbinh is offline   Trả Lời Với Trích Dẫn
The Following 2 Users Say Thank You to thohoangbinh For This Useful Post:
HatSuongNguyen (22-04-2011), uatkimhuong.mn (15-04-2011)
Old 14-04-2011, 03:38 PM   #3
User Profile
thohoangbinh
Super Moderator
 
thohoangbinh's Avatar
 
User ID: 8
Usergroup: 2
Tham gia ngày: Apr 2011
Tuổi: 61
Bài gởi: 256
Thanks: 78
Thanked 312 Times in 206 Posts
Default CÓ TIN, CÓ KHÁC

CÓ TIN, CÓ KHÁC

(Chúa Nhật VIII TN A)


“Vai mang bị bạc kè kè. Nói quấy, nói quá chúng nghe rầm rầm”. “Bần cư náo thị vô nhân vấn. Phú tại sơn lâm hữu khách tầm”. “Có tiền mua tiên cũng được”. “Vạn sự phải có cái đầu tiên là tiền đâu?”. “Hạ tầng kiến trúc quyết định thượng tầng kiến trúc”. “Ai nắm hầu bao thì người ấy có quyền quyết định”. “Có thực mới vực được đạo”. “ Nhất sĩ nhì nông, hết gạo chạy rông, nhất nông nhì sĩ”…Rất nhiều kiểu nói văn hoa hay dí dỏm của người xưa hay người đời nay như đã minh chứng sức mạnh to lớn, sức cuốn hút khó cưỡng của vật chất, tiền bạc. Chính Chúa Kitô cũng đã từng đặt đối trọng thần tài với Thiên Chúa khi dạy bảo: “Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa vừa làm tôi Tiền Của được” (Mt 6,24).
Dĩ nhiên, đã là người trong thân phận xác phàm thì không thể coi thường các điều kiện thể lý và vật chất. Pascal đã từng cảnh tỉnh rằng ai muốn sống như thiên thần thì sẽ có nguy cở trở thành loài vật. Để ban ơn cứu độ cho con người, Thiên Chúa đã chọn con đường vào trần gian, mang lấy thân nhục thể. Đã đón nhận xác đất vật hèn thì Con Thiên Chúa làm người chấp nhận bị điều kiện hoá bởi các quy luật sinh hoá lý mà trong đó vai trò của vật chất, tiền bạc không nhỏ chút nào. Ngay từ lúc khởi đầu công cuộc rao giảng tin mừng, chính Người cũng đã bị thần dữ cám dỗ về lãnh vực này (x.Mt 4,1-11).
Vấn đề đặt ra đó là vị trí chủ-tớ trong tương quan giữa con người chúng ta với của cải, tiền bạc. Của cải, tiền bạc vốn là tốt nhưng chúng chỉ tốt khi phục vụ con người, nghĩa là làm tôi con người. Chúng trở thành xấu khi con người đội chúng trên đầu trên cổ, xem chúng như những vị thần toàn năng. Rất nhiều câu ngạn ngữ nói đến ý tưởng này, chẳng hạn như “tiền bạc là tên đầy tớ tốt, nhưng là ông chủ tồi”... Chúng ta có thể nói rằng xưa lẫn nay người ta đều đồng thuận về chân lý này nghĩa là phải biết làm chủ tiền bạc, của cải. Thế nhưng trong thực tế thì dường như ngược lại. Chuyện để cho của cải, tiền bạc lôi kéo mình đến chỗ không hay, điều khiển mình làm những sự chẳng nên là chuyện không hiếm. Một thực tế nữa đó là những người thường lên tiếng khuyên dạy người ta cách thế làm chủ tiền của theo kiểu luân lý hay nói nôm na là dạy đời thì thường là những người đang sung túc, đủ đầy tiền của, không phải gánh chịu cảnh bán mặt cho đất, bán lưng cho trời ngày hai buổi, để kiếm cái ăn, cái mặc cho mình và gia đình. Chính vì thế mà biết bao văn chương chữ nghĩa về đề tài bạc tiền thoặt nghe rất dễ nhận nhưng chẳng làm thay đổi người nghe. Dòng đời xô bồ vẫn cứ chảy. Ma lực của đồng tiền vẫn cứ ngự trị cách này cách khác. Làm sao để đứng vững trước dòng xoáy của các nhu cầu cơm áo gạo tiền cũng như các phương tiện để sinh tồn và phát triển? Chúa Kitô cho chúng ta chiếc chìa khoá căn bản đó là lòng tin.
Đức tin tiên vàn là ân ban của Thiên Chúa. Đức tin cũng là sự đáp trả của con người trong tự do và hiểu biết. Chúa Kitô mời gọi chúng ta dùng trí khôn để suy xét, cân nhắc và chọn lựa giữa những điều hơn kém. Với trí khôn bình thường, người ta dễ dàng nhận ra phần hơn kém giữa mạng sống và của ăn, giữa thân xác và áo quần. Thế mà vẫn có đó nhiều người vì cơm áo mà đã phải thiệt thân. Lưới đã rách thì cố tìm mấy viên chì cũng chẳng được ích gì. Từ dữ kiện đời thường Chúa Kitô mời gọi chúng ta phân định phần thiệt hơn giữa sự sống đời này với sự sống đời đời, đồng thời mời gọi chúng ta hướng cái nhìn lên Đấng Toàn năng chí ái, Đấng đã cho chúng ta từ hư vô hiện hữu ở đời này.
Cần xác định rằng không một ai trên trần gian này tự quyết định hay phải trả một giá nào cho việc làm người, chào đời của bản thân. Không một ai tự mình làm người nhưng là được dựng nên, được tạo thành. Người có niềm tin nhìn nhận việc làm người của mình do Đấng toàn năng. Cách riêng Kitô hữu tin nhận Đấng Toàn Năng cũng là Người Cha chí ái. Vì yêu thương nên Thiên Chúa đã cho tôi làm người, chào đời. Không bao giờ Thiên Chúa bỏ rơi chúng ta. Chẳng có người mẹ nào quên được đứa con mình mang nặng đẻ đau. Cho dù thỉnh thoảng có một đôi người mẹ trần gian vô tâm với con của mình thì Thiên Chúa chẳng bao giờ bỏ quên chúng ta (x.Is 49,14-15). Tác giả Thánh Vịnh luận lý rằng nếu Thiên Chúa ghét bỏ bất cứ loài nào thì Người đã không dựng nên nó.
Chúa Kitô mời gọi chúng ta hãy nhìn xem hoa cỏ, chim trời để vững tin vào Thiên Chúa, Đấng luôn yêu thương, chăm sóc mọi loài, nhất là loài người. Có được niềm tin này thì Kitô hữu cho dù vẫn phải gắng công kiếm tìm sinh kế cho bản thân và tha nhân nhưng không quá “lo lắng” theo kiểu người chưa hoặc không nhận biết Thiên Chúa. Vẫn nỗ lực lao tác kiếm tìm của cải vật chất nhưng chúng ta phải biết sử dụng chúng để phục vụ sự sống, để phát triển tình yêu. Đây là nội hàm lời dạy của Chúa Kitô: “Trước hết hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người…”(Mt 6,33).
Chúng ta ra sức kiếm tìm vật chất, tiền của để làm gì? Trả lời rốt ráo câu hỏi trên theo ánh sáng mạc khải thì chúng ta sẽ biết cách kiếm tìm của cải đẹp lòng Thiên Chúa. Thử hỏi rằng đã có nét khác biệt nào giữa Kitô hữu và bà con lương dân hay người khác đạo trong cách thế kiếm tìm vật chất, của tiền cũng như cách thế sử dụng chúng? Thiết nghĩ đây là một cách thế biểu lộ niềm tin mang tính khả tín và cũng là một cách thế rao giảng tin mừng hữu hiệu ngay giữa môi trường sống của Kitô hữu chúng ta. Và sẽ không thừa khi đề cập đến một hiện thực đó là đã có nhiều anh em lương dân hay bà con khác đạo xa lánh, từ chối ánh sáng tin mừng chỉ vì các gương xấu của Kitô hữu trong vấn đề kiếm tìm và sử dụng của cải, tiền bạc.
Dùng niềm tin để biện minh cho lối sống thì ít thuyết phục hơn là dùng chính cuộc sống để minh chứng cho niềm tin.
Lm Giuse Nguyễn Văn Nghĩa – Thuận Hiếu – Ban Mê Thuột
thohoangbinh is offline   Trả Lời Với Trích Dẫn
The Following 2 Users Say Thank You to thohoangbinh For This Useful Post:
Caohuong (19-04-2011), HatSuongNguyen (22-04-2011)
Old 14-04-2011, 03:41 PM   #4
User Profile
thohoangbinh
Super Moderator
 
thohoangbinh's Avatar
 
User ID: 8
Usergroup: 2
Tham gia ngày: Apr 2011
Tuổi: 61
Bài gởi: 256
Thanks: 78
Thanked 312 Times in 206 Posts
Default hánh Giuse con người hành động[

Thánh Giuse con người hành động

-

Thánh Giuse, con người thầm lặng trong Tin Mừng, là một vị thánh đặc biệt biểu lộ sức mạnh của yên tĩnh trong tâm hồn qua năng lực của hoạt động. Trong cách nhìn này, chúng ta ngắm nhìn khuôn mẫu của Thánh Giuse để học gương lành của ngài.

Hành động của mọi hành động

Thông thường, người ta nghĩ hành động quan trọng là biểu hiện bên ngoài bằng những công trình thực hiện được trong cuộc đời. Không, trước mọi biểu lộ bên ngoài, càng lớn lao bề ngoài càng thực hiện chiều sâu trước tiên chừng nấy. Để bắt đầu xây một toà nhà cao tầng, người ta thực hiện điều gì trước? Thăm dò lòng đất, lên phương án, lập kế hoạch thi công, đào đất, đặt móng cho toà nhà. Tất cả công trình ấy chưa cho thấy toà nhà thực sự biểu lộ. Chiều sâu của hoạt động tâm linh cũng là thế, thời gian dài đắm mình để lắng nghe tiếng Chúa, bao trằn trọc, bao suy tư, bao luyện tập, nhằm một mục đích để Thánh Ý của Thiên Chúa là chỉ nam cho hoạt động của mình.

Thắng dẹp được ý muốn của bản thân, bao giờ chiến thắng được ý muốn của bản thân mới thấy ưa thích để tâm nghe tiếng Chúa.

Trong tôn giáo tự nhiên, con đường thắng được bản thân là con đường của thiền quán, tập ra khỏi chính mình, đổ rỗng mọi tham, sân, si bằng những thực hành quán chiếu. Ra khỏi bến mê mới thấy bờ ảo vọng và giúp người khác ra khỏi bến mê.

Con đường “tuyệt học vô ưu” của Lão Tử, nêu nguyên tắc đầu tiên: “Dứt bỏ tục học, mọi lo buồn sẽ hết”. Tìm học cái hay, cái biết bên ngoài mà không tìm biết cái bên trong, cái chiều sâu tâm linh trước đã, làm sao có thể tránh được tham lam và đau khổ, cũng như gây đau khổ cho người khác.

Thánh Giuse không nói gì trong Thánh Kinh, nhưng lại trở thành gương mẫu cho mọi hoạt động. Đó là “dụng của cái không” để mình ra không trước nhan Thiên Chúa. Chiều sâu của hoạt động là im lặng lắng nghe tiếng nói từ nguồn cội sự sống, Thiên Chúa lên tiếng từ trong sâu thẳm. Lắng nghe và biết điều Thiên Chúa muốn để không còn sống cho mình mà sống cho Thiên Chúa. “Chúng ta có sống là sống cho Chúa, mà có chết cũng là chết cho Chúa” (Rm 14, . Hiệu quả “dụng của cái không” chính là “Đấng Toàn Năng đã làm cho tôi biết bao điều cao cả, danh Người thật chí thánh chí tôn!” (Lc 1,49).

Hành động trong chiêm niệm

Không phải là hành động trong ảo vọng mà thực sự hành động trong viên thành. Điều gì làm cho mình, điều đó sẽ chấm hết khi cuộc đời mình chấm dứt, đó là cách hoạt động cho ảo vọng. Con người làm việc cho Thiên Chúa là thi hành theo Ý muốn của Thiên Chúa.

Ý muốn Thiên Chúa là hạnh phúc của nhân thế được viên thành. Có biết bao trở ngại trên con đường thực thi ý Thiên Chúa. Thánh Giuse đã từ bỏ ý riêng, đón nhận Maria (x. Mt 1,18-25); thấy được thánh ý qua sự kiện trần thế, đưa Đức Maria về cùng mình để khai sổ bộ và Maria tới ngày sinh: “Bà sinh con trai đầu lòng, lấy tã bọc con, rồi đặt nằm trong máng cỏ, vì hai ông bà không tìm được chỗ trong nhà trọ” (x. Lc 2,1-; kết quả là mừng vui. Điều gì quan trọng đã được đón nhận thực hiện, ở đâu, nơi chốn không là vấn đề bận tâm. Đã bao lần con người chúng ta hoạt động mà thiếu mất điều chính yếu, loay hoay với bao điều phụ thuộc, rồi đau khổ, rồi than van, trách móc?

Thánh Giuse nghe thiên thần mách bảo đưa gia đình tránh sang Ai Cập (x. Mt 2,13-14). Sở dĩ lao động của nhân loại được trao phó cho Thánh Giuse là “từ bỏ ý riêng để chu toàn Thánh ý”. Con người đau khổ là đã tự quyết ngoài thánh ý Thiên Chúa, do chất đầy trong mình những sợ mất chính mình trong cuộc sống này. Tự khẳng định mình, cố giữ lấy cái mình đã được, con người trốn tránh Thiên Chúa và đổ lỗi cho nhau (câu chuyện trái cấm). Làm sao có thể trao trách nhiệm của nhân loại cho con người chỉ biết tới mình, vì thế Lão Tử cũng nói trong Đạo Đức Kinh: “Lấy thân cho thiên hạ, đem thân vì thiên hạ; và tất nhiên bậc người như thế sẽ xứng đáng được trao gửi thiên hạ vào tay”.

Hành động của chiêm niệm là hành động xây nhà trên nền móng đã đặt, không trệch ra ngoài, không lệch xa với trọng tâm. Con người thiếu vắng Thiên Chúa là những người quý ngọn, thích phù hoa, tìm danh lợi, đắm mình trong đam mê một kiếp trần ai, cuối cùng là sụp đổ, bởi chỉ tìm ngọn hái hoa trái mà thiếu mất tìm đến cội nguồn mà bồi dưỡng. Con người hành động trong chiêm niệm là thực hành cuộc đời trong điều chính yếu, đơn giản nhưng chiều sâu, uống tận nguồn sữa sáng tạo tiếp tục dâng đời những mới mẻ, bình an và hân hoan, mang niềm vui lan tỏa đến người khác và muôn loài.

Thánh Giuse trở thành mẫu gương cho mọi hoạt động vì Ngài đã thực hành điều chính yếu trong cuộc đời. Dù tay đã chai sần vì đục đẽo, dù cuộc sống cũng đã bôn ba trong những nghịch cảnh; dù sống trong cảnh nghèo nàn nhưng niềm vui Nước Trời đã thực sự thành sự nơi Trần Thế. Tôi và bạn hãy cùng nhau hành động theo gương Thánh Giuse, tìm đến cội nguồn để phát sinh hoa trái.


Lm. Giuse Ho
àng Kim Toan[/B]
thohoangbinh is offline   Trả Lời Với Trích Dẫn
The Following 3 Users Say Thank You to thohoangbinh For This Useful Post:
Caohuong (19-04-2011), HatSuongNguyen (22-04-2011), uatkimhuong.mn (15-04-2011)
Old 14-04-2011, 03:45 PM   #5
User Profile
thohoangbinh
Super Moderator
 
thohoangbinh's Avatar
 
User ID: 8
Usergroup: 2
Tham gia ngày: Apr 2011
Tuổi: 61
Bài gởi: 256
Thanks: 78
Thanked 312 Times in 206 Posts
Default Chuyện Phiếm Đạo Đời - suy tư

Chuyện Phiếm Đạo Đời - suy tư

từ Lời Chúa qua cuộc đời

VietCatholic News (25 Feb 2011 19:08)

Chuyện Phiếm Đạo Đời - suy tư qua cuộc sống

“Kẻ thù ta đâu có phải là người”

”Giết người đi thì ta ở với ai?”

(Phạm Duy – Kẻ Thù Ta)

(1Cr 6: 19 )

Ấy thế mà, các cụ Đạo nhà ta xưa kia vẫn cứ kể ra, những là ba thứ kẻ thù: ma quỷ, thế gian, và xác thịt. Ma và quỷ, dù có là kẻ thù dữ dằn nhất, đâu nào thấy. Còn thế gian, là bạn và tôi, sao là thù! Và hơn thế, nếu xác thịt là những thịt thà cùng xương xẩu của tôi và của bạn, mà là kẻ thù ư? Nếu vậy, tại sao các thánh lại cứ bảo đó là “Đền thờ Chúa Thánh Thần”?

Thôi thì, hôm nay, hỡi tôi và bạn, ta cứ thử đi một vòng phiếm sương sương đôi ba sợi để về với “đền thờ” và cái-gọi-là “kẻ thù thứ ba” xem sao. Và, nay thì mời bạn/mời tôi, ta hãy ngâm nga ba câu hát của nghệ sĩ già từng quả quyết, rất như sau:

”Kẻ thù ta tên nó là gian ác

Kẻ thù ta tên nó là vô lương

Tên nó là hận thù

Tên nó là một lũ ma (thế thì).”

(Phạm Duy – bđd)

Nếu thế thì, “kẻ thù ta” trước hết và trên hết, phải là “lũ ma” chứ? Nhưng, ma là gì? Là, thân xác ư? Là “đền thờ Chúa Thánh Thần” chăng? Là gì đi nữa, hãy cứ để đó, hạ hồi sẽ rõ. Nay, bạn và tôi, ta lại hát thêm đôi ba chữ rất “kẻ thù”, như định nghĩa của người nghệ sĩ trên, vẫn từng hát:

“Kẻ thù ta mang áo mầu chủ nghĩa

Kẻ thù ta mang lá bài tự do

Mang cái vỏ thật to

Mang cái rổ danh từ

Mang cái mầm chia rẽ chúng ta (thế thì).”

(Phạm Duy – bđd)

Vâng. Ba thù hoặc kẻ thù thứ ba, mà khi xưa các cụ cứ cho là thân xác, nó vẫn mang cái vỏ thật to. Lại dựa vào hai chữ “tự do”, nên tha hồ làm. Tha hồ, mà chăm sóc, để rồi biến nó thành thứ gì đó rất ghê gớm. Cũng đáng yêu và đáng sợ, như sự thường.

Về yêu thương những kẻ thù, rất thứ ba, cũng nên kể cho nhau nghe một truyện kể, như sau:

“Truyện rằng:

Tại trại xe điện ngầm Thủ Đô Hoa Thịnh Đốn vào buổi sáng tháng giêng lạnh lẽo năm 2007, một người đàn ông đàn liên tục 6 tấu khúc của Bach trên cây đàn vĩ cầm trong 45 phút. Ước chừng hơn 2000 người qua lại trạm xe điện ngầm trong khoảng thời gian đó và hầu hết những người ấy đều trên đường đi làm. Sau ba phút, một người đàn ông trung niên nhận ra là có người đang chơi nhạc. Ông ta chậm bước và ngừng chân trong vài giây rồi lại hối hả theo thời khắc biểu đã định sẵn.

Bốn phút sau, người đàn vĩ cầm nhận được đồng tiền đầu tiên: một phụ nữ vừa đi vừa liệng tiền vô cái nón mà không hề ngừng lại. Phút thứ sáu: một thanh niên trẻ dựa vào tường và lắng nghe tiếng đàn,sau đó liếc nhìn đồng hồ đeo nơi tay và bước đi. Phút thứ mười: một bé trai khoảng 3 tuổi đứng lại nhưng bị mẹ lôi đi vội vã. Cậu bé trì lại và nhìn người chơi đàn lần nữa. Dù bị mẹ kéo đi, cậu bé vẫn luôn ngoái đầu nhìn. Nhiều đứa bé khác cũng quay đầu nhìn như thế và không cha mẹ nào lại không nhanh chóng kéo con mình đi cả. Bốn mươi lăm phút đàn không ngừng, chỉ có 6 người thật sự dừng hẳn lại và lắng nghe trong một lúc. Khoảng 20 người cho tiền mà vẫn tiếp tục bước đi. Người chơi đàn nhận được tất cả là 32 đô la.

Sau một giờ, người đàn ông chấm dứt, thôi đàn và không gian trở nên im vắng. Không ai để ý. Không ai vỗ tay khen và cũng chẳng có ai lưu tâm. Nhưng không một ai biết điều này, người chơi đàn vĩ cầm đó là Joshua Bell, một cầm thủ lẫy lừng trên thế giới. Với cây đàn vĩ cầm trị giá trên 3 triệu rưỡi đô la, Joshua Bell đã đàn lên những tấu khúc tuyệt vời mà không ai có thể viết hay hơn được nữa. Hai ngày trước đây, Joshua Bell đã trình diễn ở Boston, nơi mà giá trung bình là 100 đô la một vé và nhạc viện bán sạch không còn dư một vé nào.

Đây là một câu truyện thật: việc Joshua Bell lặng lẽ chơi đàn tại trạm xe điện ngầm được báo Washington Post sắp xếp để xem cảm xúc con người trong xã hội như thế nào, họ nhận thức và lựa chọn ra sao…Câu hỏi được đặt ra là tại nơi chốn thông thường trong giờ giấc không thuận lợi cho lắm, liệu chúng ta có nhìn ra được tài năng với bối cảnh không ngờ, và liệu chúng ta có nhận thức được cái đẹp và ngưng lại để thưởng thức nó hay không ?

Có thể kết luận về chuyện này như sau: Nếu chúng ta không có thì giờ ngừng lại một chút để lắng nghe người nghệ sĩ lừng danh trên thế giới đàn những tấu khúc mà không ai có thể viết hay hơn được nữa trên một cây đàn có những âm thanh tuyệt vời nhất thì chúng ta sẽ còn mất mát và bỏ qua bao nhiêu thứ tốt đẹp khác nữa trên cõi đời này….

Có thể câu truyện ở trên, chưa nói hết đuợc ý nghĩa thân xác là đền thờ của Thiên Chúa”. Thì đây, đích thị lời thánh Phaolô, vẫn cứ quả quyết:

“Hay anh em lại chẳng biết rằng

thân xác anh em là Đền Thờ của Thánh Thần sao?

Mà Thánh Thần đang ngự trong anh em

là Thánh Thần chính Thiên Chúa đã ban cho anh em.”

(1Cr 6: 19)

Tiếp đến là một đề nghị, cũng từ thánh nhân rất Phaolô:

“Vậy anh em hãy tôn vinh Thiên Chúa nơi thân xác anh em..”

(1Cr 6: 20)

Với thánh nhân, thân xác là đền thờ, chuyện ấy quá rành rành. Với người đời, thân xác còn là cái gì đó để ta quan tâm mà đề cao, với trân trọng. Còn nhớ, lực sĩ người Việt khi xưa nổi tiếng với những bắp thịt cuồn cuộn. Với những “đường cong tuyệt mỹ” là Võ Thành Nhơn, từng khích lệ mọi người hãy chăm lo cho thân xác qua khẩu hiệu “Bắp thịt trước đã”. Tiếp đến, các nhà quảng cáo thương mại, lại đua nhau sáng chế ra thành ngữ nổi cộm như: “Dáng em khoẻ cần hơn cả”, “Tấm thân ngọc ngà là chính hồn em”, vv…khiến nhiều người bắt đầu lạc hướng. Sai đường. Thay vì lo cho linh hồn, lại chỉ chú trọng đến những xác và thịt, thôi.

Là con dân nhà Đạo, chắc bạn và tôi, ta cũng nên nói lại cho đúng, rằng: thân xác con người dù quan trọng thật, vì nó giúp ta những ăn cùng thở và suy nghĩ, nhưng vẫn không là tất cả. Và, hiểu theo nghĩa nào đó, thì: nó vẫn chẳng là gì. Đẹp/xấu cũng chỉ một thời, rồi thôi. Quan trọng hơn, nó chỉ là phương tiện để ta có kinh nghiệm gặp gỡ Chúa. Gặp, những người sống quanh ta. Kinh nghiệm, là những kinh và nghiệm về một hoạt động của thể lực. Kinh và nghiệm, là những “nghiệm” và

"kinh” liên kết thể xác với người mình thương. Kinh và nghiệm về đớn đau. Về, sự yếu đuối của chính mình, để rồi từ đó mới biết trân trọng quà tặng, Chúa tặng ban.

Thật tình thì, mỗi người nhìn thân xác theo cung cách khác biệt. Có người nhìn nó như chú chó lông xù rất đáng yêu. Có người lại coi đây như tài sản quý giá đáng trân trọng và chăm sóc. Chăm và sóc, không chỉ bằng các phương tiện của đời phàm. Hoặc, để tối ngày soi gương mặt giếng mà chiêm ngưỡng dung nhan, như thần Narcissus vẫn thường làm.

Thật ra, thì thân xác là chính con người. Những con của người, có cả xác thể lẫn hồn thiêng được Chúa yêu thương hun đúc thành hữu thể sống động, mà sống với Chúa. Có Chúa ở cùng. Xem thế, thì thân xác không phải là kẻ thù, mà là mình. Là, bạn thân của chính mình. Là, bạn của Chúa. Bởi, chính Chúa đã chấp nhận mang thân phận “người” có xác phàm vào với Ngài, gồm cả hồn xác. Về ý tưởng này, nghệ sĩ trên đã minh định:

“Kẻ thù ta đâu có ở người ngoài

Nó nằm đây nằm ngay ở mỗi ai

Kẻ thù ta trong mắt thèm lơ láo

Kẻ thù ta trong góc đầu tự kiêu

Trong cõi lòng quạnh hiu

Trong óc hẹp tiêu điều

Trong giấc mộng xâm chiếm nhau.”

(Phạm Duy – bđd)

Xem thế thì, nghĩ đi và nghĩ lại, thân và xác ta đâu là kẻ thù đếm thứ 3. Quan trọng hơn cả, thân xác không chỉ mang “ảnh hình” Thiên Chúa, thôi. Mà, còn được đính kèm cả hồn thiêng nữa. Nói cách khác, thân xác là ta. Là, Chúa ở nơi ta. Bởi, Chúa có thương yêu/tôn trọng ta, Ngài mới ban cho con người của ta một thân xác. Ngõ hầu, xác thân ấy sẽ phản ánh/chiếu soi ảnh hình Ngài. Thân xác ta, không chỉ là đền thờ Chúa thôi, mà còn là “nhà” Chúa. Là nơi để Chúa đến mà trú ngụ. Chúa đến, mà thăm viếng. Thở than. Râm ran, nhiều tình tự.

Bởi, thân xác là ta, nên Kinh Sách vẫn tỏ cho ta biết đường mà kính trọng. Biết đường, mà đánh giá cao. Biết, để mình dùng thân xác mà vui hưởng cuộc đời như vui chơi, ăn uống. Biết tồn trữ nơi mình của ăn thức uống, rất ê hề. Thân xác, là quà tặng ta trao cho nhau, khi hai người trở nên một. Một gia đình. Tình nhân. Qua hôn phối. Để rồi sẽ “tương kính như tân”. Tôn và kính, như tặng phẩm Chúa kiến tạo. Tặng ban. Phân phát.

Một trong những đặc điểm của thân xác vốn là quà tặng Chúa ban, là vẻ đẹp hiếm quý, mỹ miều. Đẹp, cả ở bên ngoài lẫn bên trong. Đẹp bên trong, rồi sẽ tiết ra ngoài. Có vậy mới đáng giá. Có vậy, quà tặng mới mỹ miều. Đó cũng là điều mọi người cần nuôi dưỡng, cảm tạ. Cảm kích để tạ Ơn Trên. Cảm kích và tri ân người khác đã giúp đỡ, sẻ san. Ngõ hầu quà tặng diễm kiều do Chúa gửi đến, sẽ cứ thế đẹp lên mãi.

Nói cách khác, vẻ kiều diễm của thân xác là tặng phẩm Chúa phú ban, không chỉ để ta sung sướng/hưởng thụ cho riêng mình. Mà, vì nó đẹp cả trong lẫn ngoài, nên mỗi người và mọi người cũng nên sẻ san với người khác. San và sẽ, để rồi tất cả sẽ cùng nhau cảm tạ và ghi tạc Ơn Trên đã ban phát những thứ ấy cho ta. Cho người.

Nói theo kiểu nghệ sĩ ngoài đời về kẻ thù ở trong lẫn ngoài người mình, là còn nói và hát rằng:

“Kẻ thù ta đâu có ở người ngoài

Nó nằm đây nằm ngay ở mỗi ai

Người người ơi, yêu mến người mãi mãi

Người người ơi, yêu mến người không nguôi

Yêu mến người đầy vơi

Yêu mến người đêm ngày

Yêu mến người, ta nắm tay…”

(Phạm Duy – bđd)

“Yêu mến người”, “ta nắm tay”, là những tình tự rất dễ thương. Tình tự để nói và hát về kẻ thù, tựa như người nghệ sĩ vẫn cứ hát như thế. Hát, để rồi sẽ còn yêu kẻ thù mình như người nhà Đạo! Hát những câu trên, thật ra chưa hẳn là đường hướng của tôi và bạn, ở trong đời. Nhưng vẫn cứ là câu hát rất ưu tư khiến bần đạo lại muốn gửi đến bạn bè người thân thêm lời nhắn nhủ, rằng: hãy cứ từ từ mà kiếm tìm một lập trường rất phải lẽ. Không có gì gấp gáp. Chỉ gấp một điều, là: hễ gặp điều gì khiến mình suy tư lo nghĩ ở đâu đó, thì xin bạn/xin tôi hãy cứ mạnh dạn mà hát và nói lên lời người nghệ sĩ già họ Phạm từng nói và hát, rất như sau:

“Kẻ thù ta, đâu có phải là người

Giết người đi, thì ta ở với ai ?

Kẻ thù ta, đâu có phải là người

Giết người đi, thì ta ở với ai ?

Người người ơi, thương xót người nhỏ bé

Người người ơi, thương xót người ngây thơ

Thương xót người bị mua

Thương xót người bị lừa

Thương xót người thương xót ta.”

(Phạm Duy - bđd)

Và, hát thế nghĩa là: chẳng cần biết thân xác, thế gian và ma quỷ có là kẻ thù hay gì gì đi nữa, chẳng cần hiểu kẻ thù ta có đáng gờm hay không, ta cứ xin. Xin được như người nghệ sĩ cứ ngâm nga ba câu hát ở cuối bài mà kết thúc. Kết rồi thúc, để biết rõ chính mình hơn. Kết là kết như thế này:

“Kẻ thù ta, đâu có ở người ngoài

Nó nằm đây, nằm ngay ở mỗi ai

Kẻ thù ta, tên nó là vu khống

Kẻ thù ta, tên nó là vô minh

Tên nó là lòng tham

Tên nó là tị hiềm

Tên, nó là sự ghét ghen.”

(Phạm Duy – bđd)

Vâng. Đúng thế. Chỉ ghét ghen mới là kẻ thù truyền kiếp của con người. Suốt mọi thời. Bởi, nó nằm ngay bên trong thân xác của ta. Bởi thế nên, ta mới ngộ nhận về thân xác! Vậy thì, hỡi tôi và hỡi bạn, ta cứ ngợi ca/yêu thương kẻ thù ở nơi thân-xác-là-đền-thờ-Chúa-ngự, để rồi ta sẽ sẻ san mọi ưu tư mà giùm giúp, với quyết tâm. Quyết sẽ thắng. Chứ không thua.

Trần Ngọc Mười Hai

Vẫn suy nghĩ nhiều về

“Kẻ thù ta”, và kẻ thù của mọi người.

Để rồi, sẽ hát lai rai hát dài dài vài ba câu bên dưới:

“Kẻ thù ta đâu có phải là người

Giết người đi thì ta ở với ai?

Kẻ thù ta đâu có ở người ngoài

Nó nằm đây nằm ngay ở mỗi ai!...

Kẻ thù ta…

“Rồi buổi u sầu, em với tôi”

“Nhìn nhau cũng đủ lãng quên đời…”

(dẫn từ thơ Đinh Hùng)

Mt 7: 21-27

U sầu, mà lại nhìn nhau phải chăng là để lãng quên đời? Quên đời mình, thì dù có nhìn trời và nhìn nhau cũng không thể thấy là người người để quên mất ánh mắt tươi, làn môi cười hoặc chính đường lối sống rất mới của Chúa qua Tin Mừng do thánh Mátthêu gửi đến, hết mọi người! Thánh nhân gửi, là gửi lời tâm phúc cũ/mới đáng ta suy tư/nguyện cầu, để rồi sẽ sống theo Lời Chúa nhủ khuyên.

Một trong các đường hướng thánh Mátthêu thực hiện được khi ghi chép Lời Chúa, là nhấn mạnh đến diễn tiến rất liên hồi về các sự kiện liên quan đến hoạt động của Chúa, với dân con. Về, những gì xảy đến trong quá trình lịch sử. Cả những diễn tiến bao gồm những điều mới mẻ về Chúa, ngõ hầu đánh động người đọc. Sự liên tục của quá trình thời cổ sử và sự cải tổ cho thêm mới, đều là thành tựu khó mà tạo được cân bằng. Cái hay của thánh Mátthêu, là thánh nhân đã tin vào những yếu tố mới mẻ nơi Chúa khi viết về diễn tiến lịch sử, tức những đích thực như đã xảy ra, vẫn rất mới.

Ai có kinh nghiệm biết rõ về Công Đồng Vatican II, hẳn sẽ nhận ra được yếu tố này. Vấn đề, là hỏi rằng: Công đồng Vatican II thực chất có gì mới lạ, với Hội thánh? Đó phải chăng chỉ là một trong các Công nghị diễn tiến như bánh xe lịch sử, chẳng gì mới?

Nhìn vào các sự kiện xảy đến trong đời, tựa hồ chuyện hằng ngày ta vẫn thấy, thì sẽ có lúc ta nhận ra rằng: sự kiện lịch sử là một trong các hiện tượng thường kéo theo sau nhiều hệ luỵ, tuy rất chậm. Hệ luỵ, là những hệ quả khiến ta tuỳ thuộc vào diễn biến lịch sử. Hệ luỵ, qua nhiều cách giải thích các sự việc xảy ra, rất từ từ. Chầm chậm. Có thứ, kéo dài cả thập niên. Có thứ, phải mất hằng thế kỷ, mới hiểu được.

Sau thời gian dài như thế, con người mới nhận ra lý do tại sao mình phải trải qua nhiều sự kiện/hiện tượng đến như thế. Tức, muốn hiểu được những gì đã và đang xảy đến, ta phải trải qua các những điều mà có người gọi đó là: “những đối chọi về một giải thích”. Tức, hễ ai quan tâm đến sự kiện này/hiện tượng nọ, đều phải đưa ra lời giải thích đôi lúc trái nghịch nhau. Lời giải thích ấy, đôi khi rất kéo dài. Kéo đến độ sau nhiều bàn luận dài và lâu, người trong cuộc mới chấp nhận sự kiện/hiện tượng đối nghịch ấy và đưa vào với nhóm hội/đoàn thể mình, hầu thực hiện trong đời sống.

Nói cách giản đơn hơn, thì ngày nay có hai khuynh hướng gồm những người đề cao điều mới mẻ về Công Đồng Vatican II, hẳn vẫn coi đó như luồng gió mới, đem niềm tươi mát cho Hội thánh. Với họ, ta phải ngồi nghe suốt hàng giờ, để chờ họ nói về tình hình Hội thánh “trước”/”sau” Công Đồng, theo nghĩa lịch sử tiếp diễn. Kéo dài. Rồi từ đó, mới nhận ra được sự mới mẻ xuất hiện sau khi Công Đồng tụ tập. Bàn luận.

Khuynh hướng kia, chỉ để ý đến tính cánh liên hồi của Công Đồng, tức những gì gắn liền với quá trình mang đặc tính “Công giáo” của Hội thánh, mà thôi. Các vị ấy vẫn muốn đưa đề tài quan trọng nào vốn được Công Đồng đề cập đến trong quá trình dài đằng đẵng. Theo cách đó, các vị này càng ít nhận ra điều mới mẻ ở Công Đồng cho bằng các đấng bậc vị vọng, thuộc nhóm 1. Các đấng bậc này nhận ra được nơi Công Đồng, tính cách liên tục vẫn diễn tiến như trong lịch sử. Vì thế, các vị ấy mới có ý định sửa đổi mọi cố gắng của các nhóm muốn biến Hội thánh thành một thánh hội, hoàn toàn mới mẻ.

Thật ra thì, cả hai nhóm lập trường nói trên vẫn cần có thời gian để định ra được giá trị cho việc sửa đổi trong tương lai, mai ngày. Một số vị chỉ muốn cắt ngắn thời gian cần có, càng ngắn càng tốt. Trong khi đó, một số đấng bậc khác trong Hội thánh xem ra còn muốn cải tổ cả công cuộc đổi mới của Công Đồng nữa. Cuối cùng thì, kết quả đạt được lại tạo sự xa cách đối với các vị có yêu cầu đổi mới. Xa và cách, cả với giới trẻ từng xuất thân và lớn lên trong hoàn cảnh khác biệt.

Nhân kỷ niệm 40 năm nhìn lại những thành tựu của Công Đồng Vatican II, Đức Giáo Hoàng Bênêđíchtô XVI có nói:: “Vatican II, là Công Đồng chủ trương đường lối mà con người sống trong thế giới, cần thực tiễn. Và nền thần học của Công Đồng, là học về đường lối Chúa sống trong thực tại trần thế mà ta không thể biết rõ cho đến ngày ta về với Ngài, chốn Nước Trời. Nhiều thủ lãnh Giáo hội bị bắt gặp đang còn ngủ quên, ở đâu đó. Và, Công Đồng đã chứng tỏ thành tựu tích cực đối với cuộc sống nhân trần. Với thế giới tự tại. Với việc cho đi những gì là chiến thắng trong vinh quang kiểu trần tục. Với đường lối đa dạng hơn là khuôn thước ngõ hầu thực hiện rất nhiều điều. Từ Công Đồng này đã thấy xuất hiện các áp lực của thế giới thực tại ngày càng trở nên mạnh mẽ hơn ngõ hầu thúc đẩy Hội thánh theo con đường mà Công Đồng từng vạch mở, để rồi Hội thánh có nhiệm vụ phải đi xa hơn thế nữa.”

Có đúng thế không? Có đúng là tất cả đã thành tựu theo chiều hướng ấy không?

Đó là điều mà sự kiện/hiện tượng về sự “liên tục và dứt đoạn” cứ diễn tiến. Có người chỉ muốn trở về với Giáo hội thời cổ sử kiểu Constantin và của Đức Giáo Tông Piô IX đề ra. Có vị lại cứ muốn Hội thánh biết tổ chức và có được ý niệm về sự kiện/hiện tượng, rất khác hẳn. Muốn, là muốn Hội thánh phải là thánh hội của Tân Ước và của Công Đồng Chung Vatican II.

Từ đó, sẽ có câu hỏi, rằng: nếu vậy, thánh Mátthêu muốn nói với ta điều gì khi ngài ghi chép?

Thật ra, thì thánh Mátthêu đã khám phá ra được một đổi mới tận gốc rễ, nơi Đức Giêsu. Thánh nhân còn khám phá được sự liên tục triệt để nơi đường lối Chúa sống rất trung thực như người Do thái. Và, thánh Mátthêu ghi chép Tin Mừng là để mong cho dân con Hội thánh Chúa sống đời đổi mới như chính Chúa sống. Đồng thời, Ngài vẫn sống theo cung cách rất đúng Luật của người Do thái rất cổ lỗ. Thánh sử tìm cách nhấn mạnh những gì rất mới và cũng như rất “nệ cổ” nơi lối sống người Do thái, qua Đức Giêsu Kitô. Ngài là Đấng có một không hai, qua cung cách sống của người Do thái. Và, tính cách độc đáo ấy giúp Ngài sống một cuộc sống vừa trải dài với truyền thống, vừa “cập-nhật-hoá” cuộc sống của Ngài, theo cung cách độc nhất vô nhị ấy.

Nhìn từ góc độ nào đó, có thể nói: thánh Mátthêu đã kéo ngược giòng lịch sử, để về với sự mới mẻ mà thánh Phaolô và Tin Mừng thánh Mác-cô từng tập trung nhấn mạnh. Thánh nhân vẫn xác tín rằng cộng đoàn Phaolô và Tin Mừng thánh Máccô nhấn mạnh quá nhiều vào tính cách mới mẻ này. Dù các ngài vẫn tin vào sự mới mẻ ở sự sống của Đức Chúa. Thánh nhân từng viết: “Nhưng Ngài lại đích là một người Do thái!”, “Ngài thi hành và sống Luật Torah Do thái theo mức độ mà không người Do thái nào có thể làm được…”

Nói cách khác, Luật Torah của Do thái chính là cuộc sống rất đích thực mà Chúa sống. Nói thế, có nghĩa: Do thái giáo đã thay đổi cả và thời về sau. Bởi, chính Chúa đã sống như thế, theo cung cách rất riêng của Ngài. Và, thánh Mátthêu thấy được điều này, nơi Đức Chúa. Và, chính thánh nhân cũng thấy được ngày mai vĩnh cửu của Đạo, nơi người Do thái mình.

Hôm nay, Mùa Chay đang dần dần gần đến. Đây là mùa lễ giúp mọi người bỏ qua một bên, các ý hướng cũng như tâm tưởng, của thánh Mátthêu. Để qua một bên, là bởi: với phụng vụ năm A, là năm ta sẽ còn nghe đọc nhiều đoạn Tin Mừng do thánh Mátthêu viết. Đó, sẽ là một phần trong các ý tưởng chủ lực về kỷ luật của Hội thánh khi cử hành phụng vụ Mùa Chay. Là, quyết tâm tìm ra tương lai mai ngày cho riêng mình. Để rồi, trên hành trình thực hiện cuộc sống có đổi mới như Chúa dạy. Sống trong vòng tay dẫn dắt của Hội thánh khi rong ruổi những kiếm tìm. Bởi, trong hành trình tìm kiếm Chúa, lập trường và đường lối đổi mới do thánh sử Mát-thêu đưa ra, sẽ giúp cho ta rất nhiều điều.

Trong nhận thức tầm quan trọng của lối sống được Chúa chỉ dạy, ta hãy cùng nhà thơ trên, ngâm nga thêm lời ca vang, rằng:

“Rồi buổi u sầu, em với tôi,

Nhìn nhau cũng đủ lãng quên đời.

Vai kề một mái, thơ phong nguyệt,

Hạnh phúc xa xa, mỉm miệng cười.”

(Đinh Hùng – Bài Ca Hạnh Ngộ)

“Vai kề một mái” rất nên thơ. Hết “u sầu”. Cho dẫu đời mình từng lãng quên đường Lối Chúa dạy, thì “Hạnh phúc vẫn mỉm cười, rất xa xa.” Hạnh phúc, là những phúc hạnh Chúa hứa với mọi người từng dấn bước theo chân Ngài. Hạnh phúc, là những phúc hạnh ta đạt được khi thực hiện cả đường lối do Công Đồng qui định. Hạnh phúc cũ/mới sẽ kéo dài mãi, đến sau này.

Lm Nguyễn Đức Vinh Sanh

Mai Tá lược dịch.

Trần Ngọc Mười Hai
thohoangbinh is offline   Trả Lời Với Trích Dẫn
The Following 2 Users Say Thank You to thohoangbinh For This Useful Post:
Caohuong (19-04-2011), uatkimhuong.mn (15-04-2011)
Trả lời


Ðang đọc: 1 (0 thành viên và 1 khách)
 
Ðiều Chỉnh
Xếp Bài

Quuyền Hạn Của Bạn
You may not post new threads
You may not post replies
You may not post attachments
You may not edit your posts

BB code is Mở
Smilies đang Mở
[IMG] đang Mở
HTML đang Tắt



Múi giờ GMT +7. Hiện tại là 08:36 PM.


Powered by: vBulletin v3.8.4 Copyright ©2000-2019, Jelsoft Enterprises Ltd.