Bức chân dung bí ẩn của thánh Anna
Trong một bức bích họa niên đại vào thế kỷ 8 hoặc 9 ở Nubia (ngày nay là Sudan), các nhà khảo cổ học đã phát hiện chân dung của thánh Anna, được khắc họa trong một tư thế bí ẩn.
Bức chân dung độc nhất vô nhị về thánh Anna, mẹ của Đức Trinh Nữ Maria, đã được tìm thấy vào thập niên 1960 nhờ vào công của một đội ngũ khảo cổ học người Ba Lan trong lúc khai quật nhà thờ Faras ở Nubia. Điều khiến bức chân dung trở nên bí ẩn chính là động tác gây chú ý của thánh Anna. Thánh nhân được vẽ với ngón trỏ che môi và cái nhìn sâu lắng.
Nguồn gốc bức tranh hiếm
Bức bích họa được phát hiện từ năm 1964 và hiện thuộc bộ sưu tập của Bảo tàng Quốc gia Warsaw (Ba Lan). Vào thời điểm phát hiện, một đội ngũ các nhà khảo cổ học, dẫn đầu là giáo sư Kazimierz Michałowski, đang tham gia dự án của UNESCO nhằm bảo tồn di tích từ thời vương triều Nubia, vương quốc từng thống trị thung lũng sông Nile thời Trung Cổ. Những vị vua của vương quốc này đã cải đạo sang Kitô giáo vào khoảng năm 548, nhờ vào các phái đoàn truyền giáo từ Constantinople do Hoàng hậu Theodora cử đến, theo Aleteia. Các nhà nghiên cứu biết được bức bích họa vẽ thánh Anna nhờ vào chú thích bên dưới ghi “Thánh Anna, mẹ của Mẹ Thiên Chúa. Thánh nhân và…”.
Tên của mẹ Đức Maria không được đề cập trong Thánh Kinh. Mọi thông tin có được về thánh nhân đến từ những ghi chép bên ngoài. Theo đó, thánh Anna và chồng là thánh Gioakim từng trải qua thời gian không con cái, cho đến khi hạ sinh Đức Maria sau thời gian dài cầu nguyện và đặt đức tin vào Thiên Chúa. Dưới thời vương triều Nubia cổ đại, thánh Anna nhận được sự tôn kính rộng rãi. Phụ nữ mong con thường cầu nguyện với thánh nhân để xin ơn chuyển cầu cho mang thai và giúp sinh nở bình an.

Nhà thờ Sainte-Anne de Beaupré, Quebec, Canada
Tại sao thánh Anna lại được vẽ như thế?
Cử chỉ đặt ngón trỏ lên môi thể hiện qua bức bích họa cũng là tranh ảnh duy nhất từng khắc họa thánh Anna theo tư thế này. Có nhiều cách diễn giải khác nhau với hy vọng giải mã được ý nghĩa của hành động bí ẩn đó. Một số học giả cho rằng, vị thánh đang yêu cầu ai đó im lặng, mà theo trang ArchaeoTravel.eu gọi là “sự thinh lặng thiêng liêng”. Một giả thuyết khác thì nói động tác trên đơn giản chỉ cho thấy mẹ của Đức Maria đang cầu nguyện. Còn trang tin về khảo cổ Archaeotravel.eu lý giải động tác trong bức tranh, vốn hiếm gặp trong nghệ thuật Kitô giáo, có thể xuất phát từ truyền thống của Kitô giáo Ai Cập cổ (Coptic). Trong truyền thống này, một người lặng lẽ cầu nguyện trong lúc đặt một ngón tay của bàn tay phải lên môi. Đây là động tác được cho nhằm bảo vệ con người trước quỷ dữ đang cố tình xâm nhập vào tâm trí Kitô hữu trong lúc họ cầu nguyện.
Ở Đông phương, truyền thống tôn kính thánh Anna có thể bắt nguồn từ khoảng năm 550, khi Hoàng đế Justinian cho xây một nhà thờ tại Constantinople để vinh danh nữ thánh. Ở phương Tây, dấu tích hình ảnh sớm nhất về lòng sùng kính thánh Anna là bức bích họa thế kỷ 8 trong nhà thờ Santa Maria Antiqua ở Rome. Vào thế kỷ thứ 9, lễ mừng Đức Mẹ Thụ Thai đã lan đến miền nam nước Ý. Tuy nhiên, ở các nước Tây Âu, phải đợi đến thế kỷ 13, truyền thống tôn kính thánh Anna mới trở nên phổ biến. Một trong những nơi sùng kính thánh Anna đầu tiên ở phương Tây là Đền thánh ở Douai, miền bắc nước Pháp.

Thánh Anna và Đức Mẹ
Ngày nay, hai đền thờ nổi tiếng về thánh Anna nằm ở vùng Bretagne (Pháp) và Ste Anne de Beaupré gần TP Québec (Canada). Số người đến thăm nhà thờ Sainte Anne de Beaupré đạt mức đỉnh điểm vào lễ kính thánh Anna (26.7), và vào Chúa nhật trước ngày sinh nhật Đức Trinh Nữ Maria (8.9). Năm 1892, Đức Giáo Hoàng Lêô XIII đã gởi tặng một thánh tích của thánh Anna đến nhà thờ này. Thánh tích đã được chuyển từ Đất Thánh đến Constantinople vào năm 710, và đến cuối năm 1333 đã được lưu giữ tại Đền thờ Hagia Sophia (Thổ Nhĩ Kỳ). Trong các thế kỷ 12 và 13, thánh tích này theo chân các hiệp sĩ thập tự chinh và khách hành hương từ phương Đông đến nhiều nhà thờ châu Âu, nổi bật là ở Apt (Provence, Pháp), Ghent (Bỉ) và Chartres (Pháp). Ngày nay, di vật của thánh Anna vẫn được bảo tồn và tôn kính tại nhiều nhà thờ và tu viện mang tên thánh nhân, từ Áo, Đức, Ý đến Canada, và cả tại Hy Lạp - đặc biệt ở núi Athos và TP Katerini.
LING LANG