Tôi sinh năm 1934. Cha tôi tên Phạm Hiến Hào, được mọi người gọi là ông Sáu Hào, còn mẹ tôi tên Quới. Quê nội tôi thuộc họ đạo Cái Rắn, Cà Mau. Tôi chào đời tại đó và sinh sống cho đến năm 6 tuổi (1934-1940). Quê ngoại tôi ở họ đạo Rạch Nhà, cũng thuộc Cà Mau. Năm 1939, lúc tôi được 5 tuổi, cha Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp lúc bấy giờ đã là cha sở họ đạo Tắc Sậy, ngài xuống thăm gia đình cha mẹ tôi ở họ đạo Cái Rắn, một vùng truyền giáo xa xôi hẻo lánh thuộc tỉnh Cà Mau, và ở lại dùng cơm. Hôm đó còn có cha Công - cha sở Cà Mau, cha Việt ở họ Tân Lộc, và cha Tứ ở Hòa Thành. Theo lời mời của cha mẹ tôi, các cha vào thăm Cái Rắn, dâng lễ và nghỉ ngơi. Tuy được cha Quimbrot thành lập từ năm 1925, nhưng lúc bấy giờ họ Cái Rắn không có cha sở, các linh mục chỉ lui tới để cử hành nghi thức phụng vụ cho bốn họ đạo mà thôi.
Từ nhà tôi đến nhà thờ khoảng 300 mét. Cha tôi giúp dời nhà thờ về vị trí như hiện nay, để người ta đi lễ tiện hơn, vì trước đó, nhà thờ ở bên kia sông. Trong buổi gặp ấy, cha Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp chỉ tôi và nói với cha mẹ tôi:
- Thằng nhỏ này tới 6 tuổi thì cho vô trường Taberd học, đến 10 tuổi thì cho vô Chủng viện, nhưng 5 giờ sáng mai, nó qua giúp lễ cho tôi.
Vì hồi xưa lễ bằng tiếng La tinh, nên má tôi hỏi:
- Thưa ông cố, nó đâu có biết gì đâu mà giúp lễ.
Cha Diệp đáp:
- Cứ lại đứng, quỳ, rồi kêu lấy cái gì thì lấy cái đó.
Sáng hôm sau, mẹ tôi đánh thức tôi dậy lúc 4 giờ, rửa mặt, mặc áo dài. Mặc dù vẫn có những nỗi sợ tưởng tượng như bao đứa trẻ khác, nhưng tôi đã một mình đi bộ đến nhà thờ trên con đường vắng vẻ tối tăm, đầy lau sậy. Đó là lần đầu tiên tôi cảm nhận được Thiên Chúa ở với tôi, và đã giúp tôi vượt qua được sự sợ hãi của trẻ con trong đêm tối. Biến cố này gây ấn tượng cho tôi hoài.
Năm tôi lên 10 tuổi (năm 1944) thì được vô Tiểu Chủng viện Cù Lao Giêng. Năm 1945, chiến tranh lan tràn trên khắp quê hương và Tiểu Chủng viện bị thiêu rụi. Từ đó, gia đình tôi trở thành dân di cư, nay đây mai đó, và thất nghiệp trong vài năm. Năm 1946, cha sở gởi tôi vô Tiểu Chủng viện ở Phnom Penh, Campuchia (sau khi Cù Lao Giêng bị đốt cháy, Tiểu Chủng viện Cù Lao Giêng chuyển qua Nam Vang). Rồi tôi có vài chuyến về thăm quê giữa những cuộc giao tranh. Năm 1954, tôi bị bệnh, việc học bị gián đoạn một năm. Năm 1957, sau khi hoàn tất hai năm Triết ở Sài Gòn, tôi phải trở về gia đình dạy Pháp văn bốn năm trong một trường trung học, để giúp cha mẹ thanh toán học phí cho các em tôi đang học cấp hai. Năm 1961, tôi trở lại trường Thần học ở Sài Gòn, và năm 1965, được chịu chức linh mục.
Một lần nữa, qua những thời điểm khó khăn, tôi cảm nhận được Thiên Chúa ở cùng tôi và giúp tôi vượt qua tất cả những thử thách xảy đến trong đời. Nhìn lại chặng đường này thì có thể thấy, cha mẹ tôi cứ làm theo điều cha Diệp chỉ bảo. Năm 1940, lúc tôi 6 tuổi, cha mẹ gởi tôi lên Taberd Sóc Trăng học. Được 2 năm, khoảng năm 1942, Nhật làm sân bay ở Sóc Trăng, xe hơi không đi đến đó được. Thầy bề trên của Taberd đổi lên Mỹ Tho. Tôi phải lên Taberd Mỹ Tho học thêm 2 năm nữa. Năm 10 tuổi thì cha Công gởi tôi vào Chủng viện.
Trước Tết Âm lịch năm 1946, Tây đang trở lại. Cha Công, cha Tứ, cha sở Rạch Nhà cùng với ba, bốn chủng sinh lên ghe tam bản chèo lên Tắc Sậy thăm cha Diệp. Thăm và ở Tắc Sậy tới sáng thì các cha về lại Cà Mau. Lúc đó tôi 12 tuổi, đang có mặt ở Hòa Thành, một họ đạo cách thành phố Cà Mau 7 cây số về hướng nam, trước đó có tên là Rạch Nhà, thì đêm đến, nhà xứ trên Cà Mau bị đốt cháy. Tôi không rõ nhà xứ Cà Mau bị đốt trước hay sau khi các cha thăm cha Diệp. Nhưng chắc chắn là các cha đã tụ tập lại nói chuyện (lúc bấy giờ cha Anphongsô Nguyễn Thiên Tứ đang coi sóc họ đạo Hòa Thành). Tôi biết bởi vì tôi giúp lễ và phục vụ ăn sáng cho các cha. Sau đó, thấy các cha đi xuống nhà thờ Bàu Sen để ẩn trốn (nhà thờ Hòa Thành cách nhà thờ Bàu Sen 30km. Bàu Sen thuộc huyện Đầm Dơi).
Trong chuyến đi này, người ta không thấy cha Diệp. Có người hỏi tại sao hôm trước đi lên thăm cha Diệp, mà bây giờ sao không thấy cha đi cùng? Có lẽ các cha có bàn với vài người lớn trong họ đạo, họ mới nói các cha về mà cha Diệp không theo về. Nghe bà Sáu Trần Thị Hường và những người khác bị nhốt trong cái lẫm ở Cây Gừa nói rằng trước đó cha Diệp có nói với họ, cha ở với đàn chiên chứ không đi đâu hết. Điều này gây ấn tượng cho tôi là làm linh mục phải sống chết với đàn chiên của mình, không được bỏ.

Bà Châu Hương Ngưng, cháu nội của ông giáo Sự đứng bên nền của kho lẫm ngày trước - ảnh: Gia Bảo
Những người bị bắt và bị nhốt trong một lẫm lúa cùng với cha Diệp như bà Sáu Hường (tức bà Tư Phẩm, sau này cư ngụ tại phường Lê Bình, Cái Răng, thành phố Cần Thơ, nhà đối diện với Đại Chủng viện Thánh Quí Cần Thơ) kể lại rằng cha Diệp bị bắt từ buổi sáng tại nhà thờ Tắc Sậy cùng với khoảng trên dưới 100 giáo dân và lương dân. Tất cả bị dẫn về Cây Gừa và bị nhốt vào hai lẫm lúa bỏ trống của ông Châu Văn Sự. Đến xế trưa, người ta mời cha Diệp đi ra ngoài làm việc với họ 2-3 lần. Sau lần cuối người ta không thấy cha Diệp về. Hôm sau, những người giáo dân được báo cho biết cha Diệp đã bị giết chết và thi hài đang nằm ở một cái đìa cạn gần hai cái lẫm nhốt mọi người.
Có dịp nói chuyện với anh Tư Mãnh, con ông biện Thơ, tôi biết rằng sáng hôm sau ngày cha Diệp bị giết, anh Tư Mãnh chèo xuồng chở ba anh là ông biện Thơ ở họ đạo Khúc Tréo đi xuống Cây Gừa hỏi thăm dân để lấy xác cha Diệp. Họ gặp cha Diệp nằm chết trong một cái đìa cạn. Họ đem xác cha về Khúc Tréo, không dám chôn ở Tắc Sậy, sợ người ta bu lại.
Tôi không biết chính xác ai là người đã sát hại Cha Diệp. Dựa vào một số lời kể và vết chém đầu cha Diệp, người ta nói đó là kiểu chém của lính Nhật Bản, do hai người lính đã giải giới làm. Chỉ một điều rõ ràng là cha Diệp chăm lo cho đàn chiên, ở với đàn chiên, không chạy trốn khi đàn chiên gặp khó khăn và tử đạo vì đàn chiên. Ngài yêu thương đến cùng, noi gương Chúa Kitô. Yêu thương đến chết vì đàn chiên.
Cha Diệp có tinh thần truyền giáo rất cao và dấn thân truyền giáo cụ thể. Cha lập hoặc chăm lo các giáo điểm, họ đạo ở những vùng xa xôi, hẻo lánh chung quanh Tắc Sậy như Chủ Chí, Bà Đốc, Khúc Tréo... Cha thường xuyên đến những giáo điểm và các họ đạo cử hành thánh lễ, làm các phép bí tích cho giáo dân, cũng như thăm viếng, truyền giáo cho lương dân. Cha Diệp rất nhiệt thành và quan tâm truyền bá Phúc Âm cho lương dân. Việc cha Diệp luôn thăm viếng và giúp đỡ vật chất những lương dân trong họ đạo Tắc Sậy, cũng như việc lập nhiều giáo điểm, là những bằng chứng cụ thể và hùng hồn.

Ao nước, nơi người dân phát hiện xác cha Diệp nổi lên - ảnh: Gia Bảo
Cha Diệp đã nhờ ông nội của tôi mua miếng đất ở Chủ Chí cất một nhà thờ nhỏ bằng lá, rồi cất một cái nhà lá cạnh đó cho ông nội tôi ở. Khi nào cha đến làm lễ thì lo cơm nước. Khi tôi đi Chủng viện Cù Lao Giêng để nhập học, cha tôi chèo ghe ghé vào nhà ông nội ở một đêm rồi mới đi. Tôi đọc thấy lòng yêu kính Chúa và dâng mình cho Chúa của cha Diệp qua việc quan tâm đào tạo ơn gọi linh mục. Bây giờ suy nghĩ lại, tôi tự hỏi: Tại sao cha Diệp không phải là cha sở của tôi mà lại gọi tôi đi giúp lễ, kêu cha mẹ cho tôi đi học ở trường Taberd và cho đi tu ở Chủng viện? Đời sống gương mẫu của cha Diệp gây ấn tượng mạnh mẽ trong tôi. Khi tôi gặp khó khăn trong việc học hành, hay đau ốm ở Chủng viện, nhớ về cha, tôi không bị thối chí. Ngài yêu thương phục vụ họ đạo và gắn bó với cuộc sống đời và đạo của các Kitô hữu mà ngài phục vụ. Đặc biệt qua câu nói của cha Diệp mà nhiều người được nghe: “Đoàn chiên ở đâu thì mục tử phải ở đó. Mục tử phải sống chết với đoàn chiên”. Rất nhiều người Công giáo cũng như lương dân đã vô cùng tôn kính ngài. Họ cho rằng cha Diệp vì yêu thương giáo dân nên đã ở cùng giáo dân. Khi bị bắt, ngài đã chấp nhận chết thay cho những người bị bắt để họ được thả về. Nhiều người cùng bị bắt với cha Diệp nói cha đã tự nguyện chết để cứu họ. Bằng chứng là sau khi cha Diệp bị giết chết, tất cả những người bị bắt gồm cả lương hay giáo đều được tự do về nhà.
Danh tiếng cha Diệp tử đạo càng gia tăng trong cộng đoàn tín hữu Công giáo. Bằng chứng là hằng tuần, hằng tháng, hằng năm, đặc biệt vào ngày giỗ của cha 12 tháng 3, số lượng người đi hành hương và thăm viếng mộ của ngài càng ngày càng đông. Rất nhiều người lương dân đến Tắc Sậy thăm viếng và xin ơn chuyển cầu từ cha. Trong nhà và trên xe của người lương dân, người ta thấy có hình cha Diệp.
Tôi ghi lại ba điều về cha Diệp:
- Ngài là một linh mục thánh thiện, luôn nghĩ đến tương lai của Giáo hội, khuyến khích người khác đi tu.
- Ngài là linh mục thương lo cho dân, đến đâu ngài cũng lo xây dựng nhà thờ, nhà ở, tạo công ăn việc làm cho bà con lương, giáo.
- Cuối cùng, ngài là mục tử sống chết vì đoàn chiên.
Chúng ta cần phải cho mọi người thấy được những nét đẹp trong đời sống tốt lành của ngài.
Nguồn tin: www.cgvdt.vn
Ý kiến bạn đọc
Những tin cũ hơn