Đan viện Bobbio ở Ý
Đan viện Bobbio đã được thánh Columbanus người Ireland thành lập vào thế kỷ VII, nổi tiếng với thư viện đồ sộ chứa nhiều tàng thư bậc nhất châu Âu thời Trung Cổ.
Trước khi kỹ thuật in ấn ra đời khoảng năm 1440, sách ở châu Âu thường được xuất bản từ các tu viện, nơi những tu sĩ miệt mài chép tay các bản thảo. Trong bối cảnh này, đan viện Bobbio của Ý sở hữu một trong các thư viện lớn nhất trong toàn bộ cộng đồng tu viện vào thời Trung Cổ, theo Tạp chí Smithsonian dẫn lời sử gia Lauren Mancia của Đại học Brooklyn ở TP New York (bang New York, Mỹ).
Ngược dòng thời gian
Đan viện được thành lập không lâu sau khi người Lombard xâm chiếm bán đảo Ý năm 568. Năm 590, Vua Lombard tên Agilulf kết hôn với tín hữu thuần thành của Công giáo là cô Theodelinda. Dưới ảnh hưởng của nhà truyền giáo người Ireland - sau này là thánh Columbanus và người vợ Theodelinda - Vua Agilulf đã cải đạo sang Kitô giáo. Sau sự kiện này, nhà vua tặng đan sĩ Columbanus một nhà thờ trong tình trạng đổ nát cùng vùng đất bị bỏ hoang tên Ebovium.
Đan sĩ Columbanus đặc biệt muốn có được vùng đất hẻo lánh này, vì dù bận rộn với nỗ lực loan truyền Tin Mừng cho người Lombard, ngài vẫn chuộng đời sống ẩn tu cho bản thân và các môn đệ. Sau khi được trao tặng đất, ngài nhanh chóng xây dựng một đan viện kế bên nhà thờ cũ, và sinh hoạt theo truyền thống đan tu của các đan sĩ Kitô giáo dân tộc Celt cổ xưa.
Thánh Columbanus được chôn cất ngày 23.11.615. Đan viện dưới sự dẫn đầu của hai vị viện phụ kế nhiệm lần lượt là Attala (mất năm 627) và Bertulf (mất năm 640), đã vượt qua mối đe dọa đến từ phong trào Arius dưới thời Vua Rotharis (636- 652). Năm 628, khi Viện phụ Bertulf hành hương đến Rome, ngài thuyết phục Đức Giáo Hoàng Honorius I chuyển đan viện Bobbio từ dòng tu của giáo phận thành dòng thuộc quyền quản lý trực tiếp của Đức Giáo Hoàng và Tòa Thánh. Đến thời viện phụ kế nhiệm Bobolen, tu luật của dòng Biển Đức được đưa vào áp dụng tại đan viện, thay thế các tu luật có từ thời thánh Columbanus.
Trong suốt thế kỷ thứ VII đầy biến động, nhờ vào những nỗ lực của các môn đệ thánh Columbanus, ngày càng nhiều người Lombard theo thuyết Arius đã gia nhập Giáo hội Công giáo. Tuy nhiên, trong nửa đầu thế kỷ, vùng lãnh thổ rộng lớn trải dài giữa Turin và Verona, giữa Genoa và Milan, vẫn trong tình trạng thiếu ổn định, nơi tín ngưỡng Arius và các tôn giáo khác cùng tồn tại. Trong bối cảnh ấy, Bobbio trở thành một thành trì truyền giáo quan trọng đối với người Lombard. Phải đến triều đại vua Grimoald I (663-673), đa số người Lombard mới trở thành tín hữu Công giáo.

Đan viện từng là trung tâm học thuật, tôn giáo của khu vực, và mang đến ảnh hưởng đáng kể cả về khía cạnh chính trị, văn hóa
Trong những thế kỷ tiếp theo, tầm quan trọng của đan viện ngày càng gia tăng, trở thành trung tâm học thuật, tôn giáo của khu vực, và mang đến ảnh hưởng đáng kể cả về khía cạnh chính trị, văn hóa. Năm 1153, Vua Friedrich Barbarossa ra chiếu chỉ xác nhận nhiều quyền lợi và tài sản của đan viện. Khi ấy, tiếng tăm của đan viện Bobbio lan đến Ireland, quê hương của thánh Columbanus, thu hút thêm nhiều tu sĩ Ireland đến đây.
Đến năm 1803, đan viện bị chính quyền Pháp cai trị khi đó giải thể. Ngày nay, phòng chép sách từ thời xưa của đan viện đã trở thành bảo tàng, và mở cửa cho công chúng viếng thăm.
Vương Cung Thánh Đường
Trong giai đoạn 1456-1530, Vương Cung Thánh Đường San Colombano được xây dựng theo phong cách Phục Hưng và nằm trong khuôn viên đan viện. Công trình được thiết kế theo hình thánh giá, với 1 gian chính và 2 gian bên, một cánh ngang và cung thánh hình chữ nhật. Hiện nơi này vẫn còn lưu giữ bồn Rửa tội có niên đại từ thế kỷ IX và tháp chuông cùng niên đại. Các bức bích họa bên trong nhà thờ được họa sĩ Bernardino Lanzani hoàn tất vào thế kỷ XVI. Khu hầm mộ bên dưới đặt cỗ quan tài bằng đá của thánh Columbanus, được nhà điêu khắc Giovanni dei Patriarchi thực hiện năm 1480. Mộ phần của hai viện phụ đầu tiên là thánh Attala và thánh Bertulf cũng được đặt ở đây. Đến nay, hầm mộ vẫn còn nguyên bức tranh khảm trên nền có niên đại từ thế kỷ XII, khắc họa những câu chuyện về anh em nhà Maccabee và chu kỳ 12 tháng trong năm.
Về phần thư viện, nhiều khả năng các bản thảo ban đầu của nơi này xuất phát từ Ireland, do thánh Columbanus mang theo trên đường hành hương, cùng các văn bản do ngài viết lúc sinh thời. Sau đó, thánh Dungal (qua đời sau năm 827) cũng trao tặng đan viện kho sách quý của mình. Đến cuối thế kỷ thứ 10, nơi đây lưu giữ bộ sưu tập gồm khoảng 700 bản thảo cổ đại, với nhiều đầu sách vô giá của nhân loại. Theo danh mục được tu sĩ Lodovico Antonio Muratori công bố, thư viện Bobbio thời đó bao quát hầu như mọi lĩnh vực tri thức, từ thần học đến khoa học thế tục. Năm 982, đan sĩ Gerbert xứ Aurillac, người sau này trở thành Đức Giáo Hoàng Sylvester II, giữ chức Viện phụ Bobbio. Nhờ vào kho sách quý của thư viện, ngài đã biên soạn công trình nổi tiếng về hình học, góp phần quan trọng vào sự phát triển của khoa học châu Âu thời Trung Cổ.

Theo thời gian, nhiều bản thảo bị thất lạc, trong khi số còn lại bị phân tán đến nhiều thư viện khác nhau. Chẳng hạn, Đức Hồng y Federico Borromeo năm 1616 đã chuyển 86 bản thảo quý từ Bobbio về Thư viện Ambrosiana ở Milano, trong đó có bản dịch Thánh Kinh bằng tiếng Gothic. Hai năm sau, thêm 26 bản thảo được trao tặng Đức Giáo Hoàng Phaolô V để chuyển vào Thư viện Vatican. Dù vậy, những bản thảo còn sót lại đến nay đã trở thành bảo vật của các bộ sưu tập trên thế giới.
HỒNG HOANG
Ý kiến bạn đọc
Những tin cũ hơn