Trả lời của linh mục Giuse Vũ Đức Thiện, giáo sư Đại Chủng viện Thánh Quí:
Hôn nhân Kitô giáo là một ơn gọi và Bí tích thánh thiêng do Thiên Chúa thiết lập. Trong đời sống hôn nhân, vợ chồng được mời gọi yêu thương nhau bằng tình yêu chân thành, chung thủy và hy sinh như chính tình yêu của Đức Kitô dành cho Hội Thánh. Vì thế, hôn nhân Kitô giáo mang một ý nghĩa sâu xa về tình yêu, trách nhiệm và sự hiệp thông. Do đó, việc cử hành Bí tích Hôn phối cho các cặp đôi luôn được tổ chức cách thận trọng. Trong trường hợp bạn vừa nêu, việc phụ huynh có sự thẩm định, cản trở cho thấy chính cha mẹ rất coi trọng đời sống gia đình của con cái mình. Đó là một tín hiệu vui, đáng mừng. Tuy nhiên, chúng ta cần xem xét những trường hợp ngăn trở của Bí tích Hôn phối theo Giáo luật để xem trường hợp của bạn có nằm trong những trường hợp ngăn trở của Bí tích Hôn phối hay không?
Như chúng ta đã biết, một hôn phối đã cử hành trong Giáo hội, giữa hai người đã được rửa tội, không có một ngăn trở nào, hôn phối ấy không thể nào được tháo gỡ do bất cứ quyền bính nào của Giáo hội. Do vậy, Tòa án hôn phối của Giáo hội chỉ làm công việc tuyên bố rằng, ngay từ đầu, lúc cử hành, hôn phối ấy đã không tạo được hiệu quả của bí tích. Bộ Giáo luật năm 1917 phân biệt ngăn trở thành hai loại khác nhau:
- Ngăn trở cấm chỉ (impedient impediment): hôn phối bị cấm cử hành, nhưng nếu cử hành vẫn thành hiệu nhưng mắc lỗi.
- Ngăn trở tiêu hôn (diriment impediment): hôn phối bị cấm cử hành và nếu cử hành hôn phối ấy sẽ không thành hiệu, nghĩa là không tạo được hiệu quả bí tích.
Bộ Giáo luật 1917 liệt kê 5 loại ngăn trở cấm chỉ và 13 ngăn trở tiêu hôn. Bộ Giáo luật 1983 bãi bỏ cụm từ “ngăn trở cấm chỉ” và chỉ còn liệt kê 12 loại ngăn trở tiêu hôn:
1. Chưa tới tuổi như Giáo luật định (nam chưa trọn 16 tuổi, hay người nữ chưa trọn 14 tuổi).
2. Bất lực giao hợp (bất lực có trước kết hôn và vĩnh viễn).
3. Dây hôn phối (đang bị ràng buộc do cuộc hôn nhân trước, ngay cả trường hợp chưa hoàn hợp).
4. Khác biệt tôn giáo (kết hôn giữa người Công giáo và một người không được rửa tội).
5. Ðã lãnh nhận chức thánh.
6. Sống đời thánh hiến và đã khấn trọn.
7. Bị bắt cóc hay bị ép buộc.
8. Cố sát phối ngẫu (người có chủ ý kết hôn và gây ra cái chết của phối ngẫu người ấy hay của mình).
9. Thân thuộc: hàng dọc cấm kết hôn ở mọi cấp, hàng ngang cấm kết hôn đến cấp thứ bốn.
10. Hôn thuộc (họ kết bạn): Không cho phép người chồng/vợ kết hôn với người thân trực hệ của chồng/vợ khi người chồng hay vợ qua đời.
11. Ngăn trở công hạnh hay liêm sỉ.
12. Pháp tộc (dưỡng hệ): do việc nhận con nuôi được pháp lý công nhận, kết hôn bất thành ở hàng dọc hoặc ở bậc thứ hai thuộc hàng ngang. Ngăn trở này làm hôn nhân bất thành giữa: con nuôi với cha mẹ nuôi; con nuôi với cha mẹ hoặc con cháu ruột của cha mẹ nuôi; hai con nuôi của cùng một cha mẹ nuôi. Tuy nhiên, nếu có họ thiêng liêng qua việc đỡ đầu Rửa tội thì không gây ngăn trở tiêu hôn theo Giáo luật hiện hành (Bộ Giáo luật, điều 1094).
Vì thế, về quan hệ giữa cha mẹ đỡ đầu và con thiêng liêng, do không cùng huyết thống, nên trường hợp của bạn và người bạn gái là con thiêng liêng của mẹ bạn thì không nằm vào những trường hợp kể trên. Cho nên, bạn và bạn gái có thể tiến tới những thủ tục cần thiết để kết hôn.
Nguồn tin: wwww.cgvdt.vn
Ý kiến bạn đọc
Những tin cũ hơn